Tài liệu cơ bản về Triều Tiên và quan hệ Việt Nam – Triều Tiên

KHÁI QUÁT CHUNG

1. Tên nước: Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên (Democratic People’s Republic of Korea, viết tắt là DPRK); tên thường gọi là Triều Tiên.

2. Các ngày lễ lớn:
– Quốc khánh: 9/9/1948
– Ngày Thái Dương (sinh nhật của Chủ tịch Kim Nhật Thành): 15/4/1912
– Ngày Quang Minh (sinh nhật của Chủ tịch Kim Châng In): 16/2/1941
– Ngày thành lập Đảng Lao động Triều Tiên: 10/10/1945
– Ngày thành lập Quân đội nhân dân Triều Tiên: 8/2/1932

3. Thủ đô: Bình Nhưỡng (Pyongyang)

4. Vị trí địa lý: Nằm ở nửa Bắc Bán đảo Triều Tiên; phía Đông và Tây giáp biển; phía Bắc giáp Trung Quốc (1.300 km) và Nga (16 km); phía Nam là giới tuyến quân sự với Hàn Quốc chạy theo vĩ tuyến 380 độ Bắc. Khí hậu: Ôn đới.

5. Diện tích: 122.762 km2.

6. Dân số: 25,01 triệu người (tháng 1/2018).

7. Dân tộc: Chỉ có duy nhất một dân tộc Triều Tiên.

8. Hành chính: gồm 9 tỉnh, 1 thủ đô (Bình Nhưỡng), 2 thành phố đặc biệt (Nampo và Rason). Các cấp hành chính gồm: tỉnh, thành phố, quận, huyện, xã.

9. Tôn giáo: Đạo Phật, đạo Thiên chúa, Thanh đạo giáo.

10. Ngôn ngữ: Tiếng Triều Tiên

11. Chế độ chính trị:
– Triều Tiên theo chế độ xã hội chủ nghĩa. Đảng Lao động Triều Tiên là đảng cầm quyền duy nhất tại Triều Tiên (thành lập ngày 10/10/1945). Ngoài Đảng Lao động, Triều Tiên còn có hai đảng khác là Đảng Thanh hữu Thiên đạo giáo Triều Tiên và Đảng Dân chủ Xã hội nhưng hai đảng này chỉ tồn tại về mặt hình thức. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đảng Lao động Triều Tiên (ngày 6-9/5/2016), Triều Tiên tuyên bố tiếp tục kiên trì chế độ xã hội chủ nghĩa, lấy tư tưởng Chủ thể làm tư tưởng chỉ đạo, lấy lý tưởng của Chủ nghĩa Kim Nhật Thành-Kim Châng In và đường lối “Song tiến” của Chủ tịch Kim Châng Ưn làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động; xóa bỏ Ban Bí thư, lập Ban Chính vụ Trung ương, lập mới chức vụ Chủ tịch Đảng, thay các chức danh Bí thư Trung ương thành Phó Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương, Bí thư và Phó Bí thư Ban chấp hành Đảng Bộ từ cấp Tỉnh/ Thành/ Huyện/ Quận thành Chủ tịch và Phó Chủ tịch Ban chấp hành Đảng bộ Tỉnh/ Thành/ Huyện/ Quận. Tại Hội nghị Trung ương 3 Đảng Lao động Triều Tiên (20/4/2018), Triều Tiên tuyên bố đã thực hiện thành công chiến lược “Song tiến”, hoàn thành tiềm lực hạt nhân quốc gia, sẽ dừng các hoạt động thử hạt nhân và tên lửa liên lục địa, đóng cửa bãi thử hạt nhân phía Bắc để đảm bảo minh bạch trong việc dừng thử hạt nhân; đề ra nhiệm vụ hiện nay là tập trung tổng lực xây dựng kinh tế xã hội chủ nghĩa, phù hợp với yêu cầu mới.

– Tại kỳ họp thứ nhất Hội nghị nhân dân tối cao khóa X (tháng 9/1998), Triều Tiên đã sửa Hiến pháp, suy tôn Chủ tịch Kim Nhật Thành là Chủ tịch nước vĩnh viễn. Tại Hội nghị đại biểu Đảng Lao động lần thứ IV (ngày 11/4/2012) và Kỳ họp thứ 5 Hội nghị nhân dân tối cao Triều Tiên khóa XII (ngày 13/4/2012), Triều Tiên suy tôn Tổng bí thư Kim Châng In là Tổng Bí thư vĩnh viễn của Đảng Lao động Triều Tiên. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đảng Lao động Triều Tiên (ngày 6-9/5/2016), đồng chí Kim Châng Ưn được suy tôn làm Chủ tịch Đảng Lao động Triều Tiên.

– Các cơ quan lãnh đạo gồm:
+ Uỷ ban Quốc vụ: được thành lập tháng 6/2016 thay cho Ủy ban Quốc phòng, là cơ quan Nhà nước cao nhất chỉ đạo toàn diện, gồm có Chủ tịch (Kim Châng Ưn), 03 Phó Chủ tịch và 08 Ủy viên. Nhiệm vụ và quyền hạn: (i) Giám sát, xây dựng biện pháp nhằm thực hiện mệnh lệnh của Chủ tịch Ủy ban Quốc vụ, quyết định và chỉ thị của Ủy ban Quốc vụ; (ii) Bãi bỏ các quyết định, chỉ thị của các cơ quan nhà nước không còn phù hợp với mệnh lệnh của Chủ tịch Ủy ban Quốc vụ và các quyết định, chỉ thị của Ủy ban Quốc vụ.
+ Hội nghị Nhân dân tối cao: là cơ quan lập pháp cao nhất (Quốc hội); Uỷ ban thường vụ Hội nghị Nhân dân tối cao là cơ quan cao nhất của Hội nghị nhân dân tối cao.
+ Nội các: Là cơ quan hành pháp.
+ Toà án Trung ương và Viện Kiểm sát Trung ương: Là các cơ quan tư pháp cao nhất.

12. Lãnh đạo chủ chốt hiện nay:
– Kim Jong Un (Kim Châng Ưn): Chủ tịch Đảng Lao động Triều Tiên (từ tháng 5/2016), Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị (từ tháng 4/2012), Chủ tịch Ủy ban Quốc vụ (từ tháng 6/2016), Chủ tịch Quân ủy Trung ương (từ tháng 4/2012), Nguyên soái (từ tháng 7/2012), Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Triều Tiên (từ tháng 12/2011); là con trai thứ 3 của Chủ tịch Kim Châng In.

– Kim Yong Nam (Kim Yêng Nam): Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị (từ tháng 9/2010), Chủ tịch Uỷ ban thường vụ Hội nghị Nhân dân tối cao (đại diện Nhà nước về đối ngoại, tương đương chức danh Chủ tịch nước của Việt Nam) (từ tháng 9/1998).

– Pak Pong Ju (Pác Bông Chu): Ủy viên Thường vụ Bộ chính trị (từ tháng 5/2016), Thủ tướng Nội các (từ tháng 4/2013), Phó Chủ tịch Ủy ban Quốc vụ (từ tháng 6/2016).

– Choe Thae Bok (Chuê The Bốc): Ủy viên Bộ Chính trị (từ tháng 9/2010), Chủ tịch Hội nghị Nhân dân tối cao (tương đương chức danh Chủ tịch Quốc hội của Việt Nam) (từ tháng 9/1998).

– Ri Yong Ho (Ri Yông Hô): Ủy viên Bộ chính trị (tháng 10/2017), Bộ trưởng Bộ Ngoại giao (từ tháng 5/2016), Ủy viên Ủy ban Quốc vụ (từ tháng 6/2016).

TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI

Sau khi kết thúc chiến tranh Triều Tiên (1950-1953), Triều Tiên tranh thủ sự hỗ trợ của Liên Xô và Trung Quốc, đã duy trì và phát triển nền kinh tế tập trung xã hội chủ nghĩa, thu được một số thành tựu nhất định trong thập kỷ 60 và 70 của thế kỷ 20, nhất là phát triển cơ sở hạ tầng, khai khoáng, công nghiệp nặng… Sau khi Liên Xô tan rã, Triều Tiên gặp nhiều khó khăn, nhất là về năng lượng và lương thực.

Sau khi lên nắm quyền, Chủ tịch Kim Jong Ưn đề ra Chiến lược phát triển mới với 02 trọng tâm là phát triển kinh tế kết hợp tăng cường tiềm lực hạt nhân. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đảng Lao động Triều Tiên (ngày 6-9/5/2016), Triều Tiên nhấn mạnh phải tập trung tổng lực để xây dựng cường quốc kinh tế; đề ra Chiến lược phát triển đất nước 5 năm giai đoạn 2016 – 2020, phấn đấu đưa Triều Tiên trở thành “cường quốc kinh tế” tự lực, tự cường, lấy khoa học công nghệ làm đòn bẩy. Các chính sách kinh tế lớn gồm: (i) thúc đẩy phát triển cân bằng, bền vững các lĩnh vực kinh tế; (ii) giải quyết vấn đề thiếu điện, đẩy mạnh xây dựng nhà máy thủy điện và điện hạt nhân, tăng sản lượng điện gió, năng lượng mặt trời, thủy triều; (iii) đẩy mạnh phát triển công nghiệp, tạo đột phá trong các ngành công nghiệp than, kim loại màu, đường sắt, cơ khí, xây dựng, vật liệu xây dựng; (iv) đẩy mạnh hiện đại hóa nông nghiệp, tăng sản lượng nông nghiệp, phát triển ngành chăn nuôi, thủy sản, đảm bảo khả năng tự cung tự cấp lương thực, coi trọng quản lý đất đai, bảo vệ rừng và trồng rừng; (v) mở rộng kinh tế đối ngoại, xóa bỏ chính sách “nhất biên đảo” trong quan hệ kinh tế đối ngoại, nâng cao tỷ trọng xuất khẩu hàng gia công, thương mại kỹ thuật và dịch vụ, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư.

Tại Hội nghị trung ương 3 khóa 7 Đảng Lao động Triều Tiên (20/4/2018), Triều Tiên xác định nhiệm vụ hiện nay là tập trung tổng lực xây dựng kinh tế xã hội chủ nghĩa, nâng cao hơn nữa đời sống nhân dân.

CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đảng Lao động Triều Tiên nhấn mạnh, Triều Tiên sẽ tiếp tục kiên trì đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, xứng tầm với vị thế và hình ảnh của một cường quốc hạt nhân; tích cực tham gia Phong trào Không liên kết, bảo vệ hòa bình khu vực và thế giới; sẵn sàng quan hệ hợp tác hữu nghị với tất cả các nước tiến bộ trên thế giới trên cơ sở tôn trọng quyền tự chủ của Triều Tiên; sẵn sàng cải thiện, bình thường hóa và đa dạng hóa quan hệ với tất cả các nước, kể cả nước từng có quan hệ thù địch với Triều Tiên.

Trong bài phát biểu đầu năm mới 2018, Chủ tịch Kim Châng Ưn nhấn mạnh Triều Tiên là một cường quốc hạt nhân có trách nhiệm, sẽ không sử dụng vũ khí hạt nhân nếu không bị các thế lực xâm lược, thù địch xâm phạm; sẽ không đe dọa hạt nhân bất cứ quốc gia nào. Triều Tiên sẽ phát triển quan hệ hữu nghị với tất cả các nước tôn trọng chủ quyền và đối xử hữu nghị với Triều Tiên; tích cực nỗ lực trong việc xây dựng thế giới mới hòa bình và công bằng.

Tại Hội nghị Trung ương 3 khóa 7 Đảng Lao động Triều Tiên (tháng 4/2018), Triều Tiên tuyên bố nỗ lực tạo môi trường quốc tế có lợi cho xây dựng kinh tế xã hội chủ nghĩa; tích cực hòa giải, đối thoại với các nước xung quanh và cộng đồng quốc tế để bảo vệ hòa bình, ổn định trên Bán đảo Triều Tiên và thế giới.

QUAN HỆ VIỆT NAM – TRIỀU TIÊN

1. Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao: 31/01/1950

2. Khuôn khổ quan hệ: Quan hệ hữu nghị và hợp tác truyền thống. Triều Tiên là một trong những nước đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam.

3. Giao lưu trao đổi đoàn:
Từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao đến nay, hai bên đã trao đổi hơn 50 đoàn cấp cao (từ Bộ trưởng trở lên).

Các đoàn ta thăm Triều Tiên có: Chủ tịch Hồ Chí Minh (8-12/7/1957), Thủ tướng Phạm Văn Đồng (6/1961), Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công (9/1988), Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm (5/1997), Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Di Niên (8/2000), Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh (16-18/10/2007), Bộ trưởng Bộ Công an Lê Hồng Anh (10/2008), Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương Hoàng Bình Quân (10/2011); Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Mặt trận tổ quốc Việt Nam Huỳnh Đảm (9/2012), Bí thư Trung ương Đảng, Chánh Văn phòng Trung ương Trần Quốc Vượng (7/2013), Phó Chủ tịch Quốc hội Huỳnh Ngọc Sơn (7/2015); Bộ trưởng Công thương Vũ Huy Hoàng (9/2015); Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Dân vận Trung ương Hà Thị Khiết (10/2015)…

Các đoàn Triều Tiên thăm ta có: Thủ tướng Kim Nhật Thành (27/11-3/12/1958), Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Kim Yong Nam (1/1992), Phó Thủ tướng Công Chin The (4/1997), Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Pec Nam Sun (3/2000), Chủ tịch Hội nghị nhân dân tối cao Chuê The Bốc sang dự Đại hội IX Đảng Cộng sản Việt Nam (4/2001), Chủ tịch Ủy ban thường vụ Hội nghị nhân dân tối cao Triều Tiên Kim Yong Nam (7/2001, 8/2012), Bộ trưởng Ngoại giao Ri Su Yông (8/2014); Bộ trưởng Kinh tế Đối Ngoại Triều Tiên (10/2015), Bộ trưởng Bộ Các lực lượng vũ trang Triều Tiên (11/2015), Phó Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Triều Tiên Chuê The Bốc thăm Việt Nam (6/2016).

4. Các cơ chế hợp tác quan trọng:
Trao đổi chính sách luân phiên cấp Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam – Triều Tiên; Ủy ban liên Chính phủ về hợp tác kinh tế và khoa học kỹ thuật Việt Nam – Triều Tiên.

5. Các hiệp định hai nước đã ký kết:
Hai nước đã ký nhiều Hiệp định quan trọng như: Hiệp định miễn thị thực cho hộ chiếu ngoại giao và công vụ (01/10/1956), Hiệp định hợp tác văn hóa (11/1957), hiệp định hợp tác Khoa học kỹ thuật (10/1958), Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và CHDCND Triều Tiên (1961), Hiệp định thương mại và hàng hải (12/1962), Hiệp định hỗ tương y tế (12/1966), Hiệp định hợp tác vận tải hàng không dân dụng (1/197), Hiệp định vận tải biển (3/6/2002), Hiệp định thương mại (3/5/2002), hiệp định tương trợ tư pháp (3/5/2002), Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư (3/5/2002), Hiệp định tránh đánh thuế hai lần (3/5/2002).

6. Hợp tác về kinh tế:
– Về thương mại: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Triều Tiên năm 2010 đạt trên 16 triệu USD, năm 2011: 10 triệu USD, năm 2012: 15 triệu USD, năm 2013 đạt khoảng 12,4 triệu USD; kim ngạch thương mại 2 chiều năm 2014 đạt 8 triệu USD, năm 2015 đạt 11,6 triệu USD (trong đó xuất khẩu sang Triều Tiên: 6,13 triệu USD, nhập khẩu từ Triều Tiên: 5,47 triệu USD), năm 2016 đạt 2,99 triệu USD (toàn bộ là kim ngạch xuất khẩu của ta sang Triều Tiên). Theo thống kê sơ bộ, năm 2017 ta xuất siêu sang Triều Tiên 7,322 triệu USD (chủ yếu là thực phẩm, bánh kẹo) và không có số liệu nhập khẩu từ Triều Tiên. Do một số nguyên nhân khách quan và chủ quan, giao dịch thương mại giữa hai nước chủ yếu được thực hiện thông qua trung gian (Trung Quốc), quy mô giao dịch nhỏ, không ổn định.

– Về hợp tác liên doanh: Giữa năm 1993 khánh thành giai đoạn 1 Nhà máy ươm tơ tằm (vốn khoảng 3,5 triệu USD) ở Hải Dương, với nguyên liệu do ta cung cấp và máy móc (nhập từ Nhật) do phía Triều Tiên cung cấp. Năm 1994, phía Việt Nam rút khỏi liên doanh, chỉ còn phía Triều Tiên kinh doanh độc lập. Năm 2001 Triều Tiên đã bán Nhà máy cho phía Việt Nam. Việt Nam không có dự án đầu tư tại Triều Tiên.

– Về viện trợ của Việt Nam cho Triều Tiên: Năm 1995: 100 tấn gạo, năm 1997: 13000 tấn gạo, năm 2000: 1000 tấn gạo, năm 2001: 5000 tấn gạo, năm 2002: 5000 tấn gạo, năm 2005: 1000 tấn gạo và 5 tấn cao su nguyên liệu, năm 2007: 50.000 USD (viện trợ khẩn cấp) và 2000 tấn gạo, năm 2009: 3000 tấn gạo, năm 2010: 500 tấn, năm 2011: 200 tấn và năm 2012: 5000 tấn.

7. Hợp tác văn hóa, giáo dục: Trong những năm 60 và 70 của thế kỷ trước Triều Tiên đã giúp ta đào tạo hàng trăm sinh viên. Ủy ban Giáo dục Triều Tiên và Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam đang thúc đẩy ký Thỏa thuận hợp tác trong lĩnh vực giáo dục. Từ 2013, 2 năm 1 lần, Bộ Văn hoá của Việt Nam đều cử đoàn nghệ thuật sang Triều Tiên dự Liên hoan nghệ thuật mùa xuân tháng 4 tổ chức tại Bình Nhưỡng./.

Nguồn đồ họa: TTXVN
Nguồn bài viết: mofahcm.gov.vn

Trả lời